Khám phá về “Quân số lý thuyết” và Quân đội La Mã

quan-so-la-ma-1

“Quân số lý thuyết”, và tại sao bạn không thể vơ vét 1/4 dân số trong nước đi lính. Cùng khám phá về “Quân số lý thuyết” và Quân đội La Mã.

La Mã thời Cộng hòa có hơn 80 vạn lính được ghi vào sổ đinh. Đúng vậy, không nhầm đâu, 800,000 quân. Ở một xứ mà có lẽ chỉ tầm 5-6 triệu dân. Tương đương với những con số trăm vạn thường thấy ở bên Tàu, hay ở cả xứ Annam ta. Và cũng như cách “đếm sổ đinh” ở đây, rải rác trên các cộng đồng sử mạng là việc nhìn dân số để tính ra quân số của các đội quân thời cổ.

Dĩ nhiên, chẳng có lần nào trong lịch sử La Mã xách cổ được 80 vạn lính ra chiến trường, và cũng tương tự, hầu hết những tuyên bố về việc Trung Hoa có triệu nọ triệu kia quân, đa phần là bullshit. Nhất là khi những con số đó đi kèm với tỉ lệ quân số/dân số đâu đó khoảng 20-25%, với căn cứ rằng “tất cả nam đinh 15-60 đều có thể đi lính”.

Dễ thế thì Đông Hán đã không sụp đổ. Dễ thế thì La Mã đã không bị Sassanid thổi bay phòng tuyến. Dễ thế, thì Tần sẽ không thống nhất được Trung Hoa, và La Mã không bao giờ thành bá chủ Địa Trung Hải, bởi vì cả hai nhà nước này đều có thể chơi trò “gấp đôi đến chết” trong khi đối thủ của chúng không tài nào làm được.

Trước khi đào sâu hơn vào bài này thì mình cũng rào trước luôn, là huy động 20-25% quân số là khả thi trong một số trường hợp. Trường hợp nào thì sẽ nói ở cuối bài.

Quay lại vấn đề chính, có nhiều trở lực ngăn cản một nhà nước huy động hết nam đinh trong nước vào lính, ngay cả khi đó là trường hợp khẩn cấp, khi sự tồn vong của chế độ trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Trong bài này mình sẽ nói qua một số trở lực, bao gồm:

  • Mâu thuẫn lợi ích giữa các nhóm trong tầng lớp thống trị
  • Nguồn lực kinh tế/tài chính không đủ.
  • Mức độ quân phiệt của xã hội thấp.
  • Thiếu sự kết nối giữa người dân và nhà nước, địa phương và trung ương.
  • Tổ chức quân đội không cho phép huy động nhanh/mạnh.

Bài này sẽ tập trung vào việc đưa ra một số quan sát chung, cũng như vài ví dụ cụ thể về cách mà các trở lực này có thể ngăn cản nhà nước huy động nhân lực trong chiến tranh, cũng như một số cách mà các nhà nước hay thực thể chính trị khác có thể sử dụng để vượt qua những rào cản này.

1. Lợi ích nhóm

Một sai lầm cơ bản mà người tìm hiểu lịch sử của các thế chế có thể mắc phải, là hình dung các nhà nước như những thực thể chính trị thống nhất, với một ý chí chung. Vấn đề là, trong thực tế, ngay cả những nhà nước tập quyền, chuyên chế nhất cũng được cấu thành bởi những nhóm mà lợi ích của chúng mâu thuẫn với nhau. Kết quả hiển nhiên của thực tế này, là việc làm của một nhóm sẽ bị ngăn cản bởi những nhóm bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trung ương mong muốn gia tăng quân số, mở rộng quân đội, không phải là ngoại lệ.

Chẳng hạn, cuối thời kỳ Đông Hán, nếu Hoàng đế muốn trực tiếp trưng binh từ dân Hán vùng nội địa ở quy mô mà nhà Tây Hán đã từng làm, giới địa chủ quý tộc sẽ phản kháng, bởi chính là tá điền của họ sẽ phải ra trận. Điều tương tự cũng tồn tại ở châu Âu trung cổ – một ông vua không phải thích là có thể điều quân ra chiến trường, khi mà quân của ông ta (trên danh nghĩa) nằm dưới sự kiểm soát của các lãnh chúa.
Nhìn chung, các nhà nước mà càng lớn, càng phức tạp, càng nhiều mâu thuẫn lợi ích xung quanh việc huy động và sử dụng các nguồn lực cho chiến tranh, thì việc thực thi chiến tranh càng khó khăn cho trung ương (nhưng nói đi cũng phải nói lại, đôi khi các nhà nước cần phải lớn và phức tạp để có thể khai thác được nguồn lực).
Một nhà nước nắm quyền kiểm soát trên một lượng lớn nông dân và thị dân tự do sẽ dễ dàng xử lý vấn đề này hơn những nhà nước mà các nhóm quý tộc, địa chủ nắm quyền kiểm soát mạnh mẽ trên người dân, thông qua quan hệ địa chủ-tá điền, lãnh chúa-nông nô, hay chủ nô-nô lệ.

2. Tài chính, kinh tế

Tiền không phải là vấn đề, mà vấn đề là không đủ tiền.
Trước thời kỳ công nghiệp, quốc phòng là danh mục chiếm tỉ trọng lớn nhất trong chi tiêu của các nhà nước – đâu đó 70% ngân khố mỗi năm là mức trung bình, như của triều Joseon. Trường hợp thấp thì vào khoảng 50% như nhà Đông Hán, mà cao thì có thể lên tới 90%, như La Mã thời mạt.

Mình không nhớ trong Harry Potter người ta có thể hô biến ra tiền không (nếu có thì nền kinh tế phù thủy lẫn Muggle sẽ sụp đổ), cơ mà cái con số 50-90% kia có nghĩa là trừ khi bạn có ma thuật hắc ám hay một cái gì đó tương tự (tí nữa sẽ nói), thì sẽ rất khó để đột nhiên tăng vọt quân số/nhân lực huy động lên nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh.

Túng quá làm liều, vi phạm vào lợi ích các nhóm chính trị để giải quyết bài toán về tài chính/kinh tế thì cũng được nhưng điều đó rất nguy hiểm. Trấn đồ thờ của Giáo hội Đông Phương ra nung lấy vàng trả quân như Alexios Kommenos, giảm lương lính và tăng thuế như Diocletian, nợ lương lính như Julius Caesar, tất cả đều yêu cầu tài năng cá nhân, may mắn, và đôi khi người thực hiện vẫn phải trả giá, như Caesar thường trực đối mặt với nguy cơ chính các quân đoàn trung thành nhất gây binh biến đòi được giải ngũ.

Đó là chưa kể việc “xách cổ vào binh” một phần lớn lực lượng lao động sẽ khiến nền kinh tế bị gián đoạn, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Các đội quân chuyên nghiệp có ưu thể rõ rệt khi có thể linh hoạt triển khai mà không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh tế, vì đằng nào quân nhân cũng không phải là một phần của lực lượng lao động.

Chi trả cho quân đội bằng đất đai hoặc hoa lợi trên đất đai là một biện pháp phổ biến để giải quyết vấn đề này, như có thể thấy ở Việt Nam tính từ thời Nam-Bắc triều. Tuy nhiên bản thân biện pháp này cũng có vấn đề của nó, nếu như quyền thu lợi trên đất đai, hay tệ hơn là quyền sở hữu đất đai, trở thành của thừa kế, làm yếu quyền lực của trung ương.

che-do-quan-phiet

3. Mức độ quân phiệt

Mức độ quân phiệt của xã hội là sự sẵn sàng tham gia và leo thang chiến tranh của xã hội đó. Xã hội càng quân phiệt, càng dễ dàng huy động, và ngược lại.
Mức độ quân phiệt này là kết quả của các yếu tố chính trị, kinh tế và cả truyền thống quân sự của một vùng, một cộng đồng hoặc thực tế chính trị. Trong những xã hội mà của cải cước bóc được từ chiến tranh là một phần đáng kể trong nguồn thu của tầng lớp thống trị, văn hóa và chính trị đề cao thành tích trên chiến trường, thì gần như hiển nhiên các thành viên của tầng lớp thống trị, thậm chí cả người dân, sẽ sẵn sàng tham gia chiến tranh hơn.
Một ví dụ tiêu biểu có thể thấy ở cuộc đọ sức đầu tiên giữa La Mã và Carthage. Bất chấp sự giàu có và truyền thống đi biển của Carthage, thành bang này vấp phải vấn đề mâu thuẫn nội bộ do một phần đáng kể chính quyền có tư tưởng chủ hòa, mong muốn dồn nguồn lực cho các hoạt động thương mại hơn là đốt tiền cho một cuộc chiến tranh với La Mã. Trái lại, các quý tộc La Mã có mọi lý do trên đời để leo thang chiến tranh, bởi vinh quang trên chiến trường đồng nghĩa với uy tín trước người dân La Mã. Kết quả của sự đối lập này là khi Nguyên lão viện Carthage cãi nhau liệu có đánh La Mã tiếp hay không, thậm chí giải tán hạm đội, thì các quý tộc La Mã bỏ tiền túi hỗ trợ nhà nước xây dựng hải quân mà “gấp đôi đến chết” với Carthage.
Mức độ quân phiệt cũng không phải là bất biến theo thời gian, bởi chính La Mã sau khi đã khuất phục được Carthage, lại sa lầy ở Tây Ban Nha trước những đội quân du kích (truyền thống mẹ rồi, bản thân cái từ guerilla trong tiếng Anh cũng có nguồn gốc từ tiếng Tây Ban Nha). Sự sa lầy này làm giảm nhuệ khí của người La Mã, đẩy nhanh quá trình “phi quân sự hóa” xã hội La Mã, khiến các nhà cai trị La Mã phải chuyển sang sử dụng các đội quân chuyên nghiệp.

4. Kết nối giữa người dân và nhà nước, địa phương và trung ương

Thành công của Pháp Cách mạng trước các nước quân chủ chuyên chế châu Âu được góp phần không nhỏ bởi sự khai sinh của chủ nghĩa quốc gia dân tộc (nationalism). Tư tưởng này tạo ra sự kết nối giữa người dân trên khắp nước Pháp với một chính quyền trung ương tại Paris, khiến người dân có lí do để mà hiến mạng cho thứ họ gọi là “tổ quốc”, thay vì một lão già nào đó ở một nơi xa tít mù tắp mà có lẽ cả đời họ không bao giờ đặt chân tới.

Trước khi có chủ nghĩa quốc gia dân tộc, hiện tượng tương tự hầu như chỉ xảy ra ở các cộng đồng/thực thể chính trị nhỏ, ví dụ như các thành bang hay các bộ lạc. Ở những cộng đồng này, giữa người dân và tầng lớp thống trị có sự gần gũi hơn về mặt địa lý, văn hóa và cả máu mủ, người dân có khả năng trực tiếp tham gia vào quá trình quyết định, nên sự kết nối là mạnh mẽ và vững chắc hơn.

Chính là ở các cộng đồng này chúng ta có tỉ lệ huy động khả thi cao nhất, có thể tới 25% dân số, tức là 100% nam đinh trong một số trường hợp (VD: Sparta/Lacedaemon).

Trái lại, ở những nhà nước/thực thể chính trị lớn hơn, đa dạng về văn hóa và sắc tộc hơn, sẽ có ít sự kết nối giữa trung ương và địa phương, giữa người dân và nhà nước – bất chấp những gì mà bản thân những nhà cai trị đương thời tuyên truyền. Lại quay về với ví dụ về La Mã ở đã nói ở phần 3, cùng thời điểm với sự sa lầy của La Mã ở Tây Ban Nha là sự mở rộng của quyền công dân La Mã (mà đi kèm với nó là nghĩa vụ quân sự) theo chiều dọc xuống những thành phần “tứ cố vô thân” nhất và theo chiều ngang sang càng ngày càng nhiều đồng minh của La Mã.

Nhưng bản thân những đối tượng này, vốn xa cách với tầng lớp thống trị về giai tầng xã hội, về sắc tộc và văn hóa, cũng không mấy mặn mà với việc đi chết cho mấy ông già đang họp ở Đồi Capitoline.

Tại châu Âu trung cổ thì hiện tượng này còn mạnh mẽ hơn, khi mà vị thế của nhà vua nhiều khi đúng bằng một lão trưởng thôn ăn mặc màu mè, lực lượng quân sự thề trung thành với tôn chủ trực tiếp của mình là các lãnh chúa phong kiến, chứ không phải nhà vua.

Nếu bản thân các lãnh chúa này cũng trung thành với quân vương thì chẳng sao, nhưng trên thực tế, sự phức tạp của quan hệ chính trị trung cổ (quay về phần 1) khiến cho lòng trung thành của các lãnh chúa không bao giờ là chắc chắn.

5. Tổ chức quân đội

Để một quân đội có thể mở rộng nhanh chóng khi chiến tranh xảy ra, nó cần có sẵn một bể nhân lực dự bị dồi dào – bởi vì, trái với trí tưởng tượng của nhiều người, bạn hầu như không thể cho mấy thằng nông dân không biết gì cầm cây giáo mà lên chiến trường đánh nhau ngay được, trừ khi bạn là quân Mông Cổ.

“Ngụ binh ư nông” là một cách để giải quyết vấn đề này – bằng cách chuyển một lực lượng lao động thành thành quân lính bán thời gian, nhà nước có thể đảm bảo rằng khi chiến tranh, họ có thể nhanh chóng tăng quân số lên vài lần, để rồi đến thời bình lại đưa lực lượng lính này trở về trạng thái “bán thời gian” nhằm cắt giảm chi phí. (Đây giống như lựa chọn thay thế tiết kiệm hơn của biện pháp “trả đất thay tiền” được nói đến ở phần 2).

Cực đoan hơn nữa, là cưỡng chế người dân đóng góp cho việc duy trì quân đội bằng nghĩa vụ quân sự với trang bị tự chi trả (giống La Mã và các thành bang Hy Lạp). Ưu điểm của cách này so với “ngụ binh ư nông” là nó còn tiết kiệm hơn nữa, nhưng nhược điểm là khi huy động sẽ mất nhiều thời gian hơn cho việc huấn luyện.

Nhìn chung, các đội quân với tính chuyên nghiệp cao và có tính chất tách biệt khỏi xã hội dân sự, thường sẽ yếu hơn ở bể nhân lực dự bị. Cả La Mã và Đông Hán đều gặp phải vấn đề này – cả hai đều dùng những đội quân chuyên nghiệp, và không giải quyết được hiện tượng “phi quân sự hóa” chia rẽ xã hội dân sự và quân sự. Đến khi khủng hoảng xuất hiện (với Đông Hán là loạn Khăn Vàng, với La Mã là khi bị Sassanid đánh bay màu phòng tuyến phía Đông) cả hai đều không kịp huy động để phản ứng.

quan-so-la-ma

Thực tế thì bạn có thể huy động được bao nhiêu quân?

Nếu tình trạng phân quyền xảy ra / quyền lực trung ương tạm thời suy yếu thì biên độ dao động là rất lớn, nên mình sẽ nói trong trường hợp lý tưởng là các nhà nước tập quyền với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ổn định, tính quân phiệt tương đối cao, tổ chức phù hợp, bể nhân lực dồi dào, vân vân mây mây.

Tỉ lệ này có thể nhóm theo “kích thước” của các nhà nước/thực thể như sau:

  • Đối với các thành bang và bộ lạc, tỉ lệ này tương đối cao: khoảng 10%-25% (Sparta có trên 10,000 lính trong khoảng 40,000-50,000 dân, La Mã thời kỳ đầu khi mới chỉ là một thành phố nhỏ cũng đạt tỉ lệ cực đại này).
  • Đối với các nhà nước ở mức “trung bình” với thiết chế hiệu quả, con số rơi vào khoảng 2-5% (La Mã Cộng hòa thời Punic War huy động được khoảng 300,000 quân trên tổng khoảng 6 triệu dân, triều Macedonian của Byzantine thì khoảng 250,000 quân trên tổng khoảng 12 triệu dân).
  • Đối với các đế chế lớn, con số rơi vào khoảng 0.5%-2% (La Mã có 500,000 quân trên dân số khoảng 70 triệu dân, Hán khoảng 400,000 quân trên dân số khoảng 60 triệu dân, đế chế của Alexander khoảng 200,000 quân trên dân số khoảng 20 triệu dân).

Tóm cái váy lại, thì con số “lý thuyết” 25% dân hầu như không có ý nghĩa (“3 đinh 1 lính” còn đang là giấc mơ đẹp của nhiều quân đội chứ đừng nói bắt hết nam đinh). Con số thực tế bị ảnh hưởng mạnh bởi nhiều yếu tố ngoài dân số, cho nên khi bàn về quân sự thì đừng đem “số lý thuyết” ra, cũng đừng chia dân số để ra quân số làm gì cả.

Nguồn: Sưu tầm

Xem thêm: 

Phần mềm chăm sóc khách hàng

Phần mềm quản lý khách hàng

Phần mềm quản lý kinh doanh

Bài viết liên quan: Lựa chọn sống giàu sang, nợ nần hay 1 đời làm thuê?

Rate this post

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM